Thứ Năm, 5 tháng 9, 2013

Cú hích từ bất ổn kinh tế tiên phong hậu nhập WTO.

Chỉ từ tháng 2 năm 2008 đến giữa tháng 6 năm 2008, ngân hàng quốc gia (NHNN) đã 3 lần điều chỉnh, tăng lãi suất tái chiết khấu tổng cộng 700 điểm %, từ 6% lên 13% và lãi suất tái cấp vốn cấp vốn 750 điểm %, từ 7,5% lên 15,5%

Cú hích từ bất ổn kinh tế hậu gia nhập WTO

Để đáp ứng các nhu cầu nguồn vốn rất lớn, kể cả cho các nhu cầu tín dụng và nhu cầu thanh khoản, các NHTM đã tận dụng mọi biện pháp để huy động nguồn. Các điều tiết trước mắt    Nhằm hạn chế rủi ro gia tăng đối với hệ thống nhà băng, NHNN đã xiết chặt quản lý hoạt động nhà băng, đặt trọng tâm vào các kênh gây rủi ro cốt đang diễn ra, cụ thể: - Kiểm soát tốc độ tăng trưởng tín dụng theo năng lực của các nhóm nhà băng.

Tín dụng ngoại tệ tăng tốc cũng tiềm tàng rủi ro đáng kể đối với các NHTM. - Mở mang các tỷ lệ an toàn gồm: (các tỷ lệ cũ) tỷ lệ khả năng chi trả, tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu (8% hoặc cao hơn, theo Thông tư 13 là 9%), tỷ lệ tối đa của vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn; (các tỷ lệ mới) trạng thái ngoại tệ, vàng tối đa so với vốn tự có; tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi và các tỷ lệ tiền gửi trung, dài hạn so với tổng dư nợ cho vay trung, dài hạn.

Tái cơ cấu hệ thống ngân hàng  Trong phạm vi lộ trình của đề án, năm 2011- 2012, quá trình tái cơ cấu tập kết vào đánh giá cụ thể chừng độ rủi ro của mỗi tổ chức để có các biện pháp tái cơ cấu thích hợp, trong đó ưu tiên các vấn đề về tăng vốn (để ứng phó với các tổn thất đang giá tăng trong hoạt động ngân hàng), xử lý nợ xấu (đang ở mức rất cao) và vấn đề chủ chốt là quản trị ngân hàng, cụ thể là: - Đánh giá, xác định thực trạng hoạt động, chất lượng tài sản và nợ xấu của các tổ chức tín dụng; - Tiến hành đánh giá và phân loại tổ chức tín dụng; - Xây dựng và triển khai phương án cơ cấu lại tổ chức tín dụng yếu kém và tổ chức tín dụng khác; - giao hội hỗ trợ thanh khoản để bảo đảm khả năng chi trả của các tổ chức tín dụng; - hoàn tất cơ bản phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng của các NHTM quốc gia (trừ ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam); - khai triển sáp nhập, thống nhất, mua lại tổ chức tín dụng; - Tăng vốn điều lệ và xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng; - Cơ cấu lại hoạt động và hệ thống quản trị.

- Hạn chế cho vay nhập cảng hàng hóa thuộc Danh mục các mặt hàng nhập cảng không thiết yếu, hàng tiêu dùng không khuyến khích nhập khẩu do Bộ công thương nghiệp ban hành. - Tăng cường quản lý hoạt động huy động và cho vay bằng vàng; từng bước giảm mạnh và chấm dứt huy động và cho vay bằng vàng. Thứ hai, rủi ro đối với hoạt động huy động    nhập WTO với môi trường kinh tế đầy biến động bị động, áp lực giảm giá VND lớn, cộng với sự leo thang chưa từng có trong lịch sử của giá vàng đã cho thấy việc huy động vốn của các NHTM rất gian truân.

Sau đó lãi suất có hạ, nhưng vẫn ở mức cao cho tới cuối tháng 11/2008. Nợ xấu tăng nhanh trong thời kì qua cũng gắn liên với việc cho vay phi sinh sản, trong đó đến 80% là cho vay bất động sản đã gia tăng quá nhanh và chiếm tỷ trọng lớn trong danh mục cho vay của các nhà băng thương nghiệp (NHTM), có những NHTM tỷ trọng cho vay phi sản xuất lên tới trên 50% tổng dư nợ.

Rủi ro thanh khoản đối với hệ thống NHTM phát sinh từ nhiều kênh. - Áp trần lãi suất huy động vốn bằng VND và USD theo quy định của NHNN; trong đó hạ thấp lãi suất huy động kỳ hạn dưới 1 tháng. - Yêu cầu về kiểm toán chặt chẽ hơn, trong đó việc lựa chọn kiểm toán độc lập phải được thực hành trước khi năm tài chính được kiểm toán bắt đầu.

Việc điều chỉnh tỷ giá, do đó, là vấn đề khó tránh khỏi và làm tăng đáng kể gánh nặng nợ ngoài tầm kiểm soát của cả khách hàng và nhà băng. Sự nhảy vọt của lãi suất liên ngân hàng vào những tháng đầu năm 2008 và năm 2011 cho thấy nhiều NHTM đã đích thực trong tình trạng khó khăn về thanh khoản.

- Qui định tổ chức tín dụng (TCTD) không được nhận ủy thác từ cá nhân; Dư nợ cho vay từ vốn ủy thác của tổ chức tính vào dư nợ tín dụng (2/5/2012); - Xiết chặt cho vay ngoại tệ (18/3); thu hẹp trạng thái ngoại tệ từ +/- 30% xuống +/- 20% (2/5/2012); - đề nghị cung cấp thông báo vay, gửi, đầu tư trái phiếu của TCTD khác (6/2); - Xử lý vấn đề sở hữu chéo trong ngành ngân hàng.

Một là, do các NHTM đã mở rộng tín dụng quá nhanh, đeo đuổi tương quan tín dụng/huy động vốn ở mức cao hơn nhiều so với thông lệ

Cú hích từ bất ổn kinh tế hậu gia nhập WTO

Thứ tư, rủi ro về nguồn thu nhập của các NHTM    Cho tới nay nguồn thu nhập chính của hệ thống NHTM vẫn là từ nguồn thu lãi, thu phí dịch vụ của các NHTM không thể hiện xu thế cải thiện rõ ràng, thậm chí còn giảm đối với VCB và MB.

Đối với nhiều NHTM, kể cả các NHTM lớn nhất như BIDV, VietinBank, thì tỷ lệ tín dụng/huy động tiền gửi khách hàng cũng thường trên 100%. Nợ xấu bắt đầu gia tăng, đặc biệt là nợ nhóm 4, nhóm 5, do tình trạng vỡ nợ, giải tán của các doanh nghiệp bùng phát và giá trị tài sản đảm bảo - đa số là bất động sản - cũng bốc hơi nhanh chóng.

Các sản phẩm huy động bị bóp méo, vận hạn huy động vốn đã khá khiêm tốn so với kỳ hạn cho vay, nay lại ngắn hơn nhiều. Do nền kinh tế chính yếu dựa vào nguồn vốn tín dụng, hệ thống nhà băng cũng có bước nhảy vọt trong hoạt động. Thực tại, các chỉ số vĩ mô đều đã được cải thiện rõ rệt.

Vn. Với các biện pháp trên đây, có thể nói, theo đuổi mục tiêu phát triển vững bền của hệ thống NHTM sẽ hội tụ vào việc thiết lập một hệ thống kiểm soát nội bộ hiệu quả, đa dạng hóa các hoạt động dịch vụ, tăng cường quản trị hiệu quả của mỗi TCTD và tăng cường công tác kiểm toán độc lập nhằm duy trì liên tục hoạt động của các TCTD nói chung, NHTM nói riêng trong khuôn khổ các giới hạn an toàn một cách chân thực, khách quan, ăn nhập với các điều kiện kinh tế - từng lớp trong từng thời kỳ phát triển.

- Tăng cường các tỷ lệ an toàn trong hoạt động kinh dinh ngân hàng, chú trọng vấn đề thanh khoản của từng NHTM; - Điều chỉnh giảm tốc độ và tỷ trọng dư nợ cho vay lĩnh vực phi sinh sản, nhất là lĩnh vực bất động sản, chứng khoán, với việc áp các trần tỷ trọng tín dụng phi sinh sản là 22% vào 30/6/2011, và vào 31/12/2011, tỷ trọng này tối đa là 16%, đi kèm với chế tài là vận dụng tỷ lệ dự trữ bắt gấp hai (02) lần so với tỷ lệ dự trữ thắt chung đối với tổ chức tín dụng và biện pháp hạn chế phạm vi hoạt động kinh dinh trong 06 tháng cuối năm 2011 và năm 2012 nếu các NHTM vi phạm.

Vấn đề phát triển vững bền hệ thống NHTM trong trung dài hạn    Bên cạnh việc hạn chế các rủi ro gia tăng trong hệ thống ngân hàng, các biện pháp trung dài hạn cũng đã được thực hiện nhằm chuyển đổi, tái cơ cấu, hướng tới phát triển bền vững hệ thống TCTD.

Bốn là, các bất ổn kinh tế cộng với yếu kém trong hoạt động nhà băng, đặc biệt là các NHTM nhỏ, đã ngăn cản luồng vốn vào các ngân hàng này. Hai là, nợ xấu tăng nhanh và nhiều khoản cho vay không trở lại ngân hàng theo kế hoạch đã định. Thứ năm, rủi ro từ vấn đề sở hữu chéo và các hoạt động giả dạng trong hệ thống ngân hàng    Sở hữu chéo đã lan rộng thời gian qua nhằm phản ứng trước các chính sách quản lý chặt đẹp hơn hoạt động nhà băng của các cơ quan quốc gia, trong đó có vần đề hạn chế cho vay bất động sản; hạn chế vay mượn trên thị trường 2.

Cho dù giá vàng đã bắt đầu gia tăng, tỷ giá cũng luôn trong dạng găng, các NHTM vẫn thực hiện huy động vàng và ngoại tệ. Tín dụng năm 2007 tăng tới 54%, gấp trên 2 lần so với mức tăng năm 2006. Với việc khai triển gói kích cầu năm 2009-2010, tốc độ tăng trưởng tín dụng đã tăng trở lại trong 2 năm 2009, 2010, trước khi rơi xuống các mức rất thấp trong nhiều năm trở lại đây.

Các nhu cầu huy động vàng và ngoại tệ tiếp gây áp lực tăng giá vàng và ngoại tệ, tiềm ẩn việc gia tăng gánh nặng trách nhiệm nợ đối với bản thân nhà băng, nhất là trong điều kiện giá vàng thế giới leo thang và tình trạng đô la hóa – vàng hóa nền kinh tế đi liền với các xu thế tăng giá vàng, giá ngoại tệ trong nước nhanh hơn các biến động nền tảng về kinh tế, về biến động giá thế giới

Cú hích từ bất ổn kinh tế hậu gia nhập WTO

Rủi ro huy động vốn còn gắn với các xu hướng huy động ngoại tệ, huy động vàng trong nền kinh tế. Hệ quả không chỉ là rủi ro đối với hoạt động ngân hàng, mà đối với tuốt tuột nền kinh tế, do cung cầu bị bóp méo, giá cả bị đẩy lên vượt quá khả năng của nền kinh tế.

- Mở rộng các dịch vụ nhà băng như kinh dinh, cung ứng dịch vụ ngoại hối, sản phẩm phái sinh của NHTM (phái sinh về tỷ giá, lãi suất, ngoại hối, tiền tệ và tài sản tài chính khác theo quy định của pháp luật về ngoại hối); dịch vụ quản lý tiền mặt, tư vấn tài chính, quản lý, bảo quản tài sản, cho thuê tủ, két an toàn, tham vấn TCDN, tư vấn mua, bán, thống nhất, sáp nhập doanh nghiệp, tham vấn đầu tư, mua, bán trái phiếu Chính phủ, trái phiếu doanh nghiệp, môi giới tiền tệ; dịch vụ lưu ký chứng khoán, kinh doanh vàng và các hoạt động kinh doanh khác (với sự duyệt của NHNN).

Phát triển vững bền NHTM – những bước đi ban sơ  Trước thực trạng xấu đi nhanh chóng của nền kinh tế và hệ thống ngân hàng, hàng loạt các biện pháp đã được ứng dụng, trong đó việc phát triển vững bền hệ thống NHTM đã và đang là vấn đề ưu tiên của nền kinh tế.

Thứ ba,       rủi ro đối với vấn đề quản lý thanh khoản    Rủi ro thanh khoản là rủi ro rất nghiêm trọng đối với hoạt động NHTM và vấn đề này cũng đã gia tăng mau chóng thời hậu nhập WTO của nước ta.

Ba là, cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động huy động vốn, gắn với việc rút ngắn thời kì huy động và cho phép khách hàng rút tiền bất kỳ lúc nào, trong khi dư nợ trung dài hạn vẫn duy trì ở mức xung quanh 40% tổng dư nợ. Đó là việc cho ra đời luật TCTD năm 2010 và việc ưng chuẩn thực hiện đề án tái cơ cấu hệ thống TCTD.

Do chênh lệch lãi suất tín dụng nội ngoại tệ lớn, cung cầu tín dụng ngoại tệ được đẩy lên rất cao, năm 2010, tín dụng ngoại tệ tăng tới 50%, trong khi tín dụng nội tệ chỉ tăng trên 10%. Việc phụ thuộc quá nhiều vào nguồn thu tín dụng trong bối cảnh kinh tế suy thoái, tín dụng suy giảm đe dọa tới khả năng duy trì lợi nhuận của các NHTM. Cụ thể: - Phân biệt nhà băng và TCTD phi ngân hàng, qui định các tỷ lệ an toàn chém hơn đối với các NHTM, các tỷ lệ an toàn thấp hơn đối với các TCTD phi ngân hàng, cho phép các tổ chức TCTD phi nhà băng mở rộng quyền hạn và phạm vi hoạt động; - Luật mới Yêu cầu TCTD phải xây dựng và ban hành các quy định nội bộ đối với mọi hoạt động nghiệp vụ của tổ chức tín dụng (bao gồm: Quy định về cấp tín dụng, quản lý tiền vay; Quy định về phân loại tài sản có, trích lập và dùng phòng ngừa rủi ro; Quy định về đánh giá chất lượng tài sản có và tuân thủ tỉ lệ an toàn vốn tối thiểu; Quy định về quản lý thanh khoản; Quy định về hệ thống kiểm soát nội bộ và cơ chế kiểm toán nội bộ; Quy định về hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ; Quy định về quản trị rủi ro trong hoạt động của tổ chức tín dụng; Quy định về quy trình, thủ tục để ngăn ngừa hành vi rửa tiền, tài trợ khủng bố và tù khác; Quy định về phương án xử lý các trường hợp khẩn cấp) nhằm bảo đảm TCTD hoạt động an toàn, liên tục.

Các quy định nội bộ của TCTD sau khi ban hành phải được gửi cho NHNN. Trong bối cảnh kinh tế suy giảm mạnh, các chính sách vĩ mô liên tục đổi thay, rủi ro và chừng độ thương tổn của hệ thống ngân hàng đã lan rộng ở mọi giác độ:    Thứ nhất, rủi ro đối với hoạt động tín dụng – hoạt động chính của các nhà băng thương mại     Ngay sau khi tăng mạnh vào năm 2007, tín dụng nhà băng đã giảm tốc vào năm 2008 do (1) khai triển chính sách thắt chặt và (2) kinh tế đã bắt đầu hạ nhiệt.

Mặc dầu còn nhiều ý kiến xung quanh các biện pháp hành chính trên đây, song có thể thấy rằng, việc vận dụng các biện pháp này đã chóng vánh hạn chế các NHTM nối chấp nhận rủi ro trong hoạt động, hỗ trợ bình ổn nền kinh tế. Trước thực trạng đó, các chính sách thắt chặt đã được vận dụng vào năm 2008.

Để nắm bắt tình hình kinh dinh của TCTD suốt năm tài chính; vắng kiểm toán không được có quan điểm ngoại trừ (qualified opinion), nếu có, TCTD phải thực hành kiểm toán lại. Kết quả dự kiến là khả năng chi trả của toàn hệ thống các TCTD về cơ bản được bảo đảm, song song xác định, kiểm soát được tình hình của TCTD yếu kém để làm cơ sở cho việc áp dụng các biện pháp cơ cấu lại ở thời đoạn sau.

Thực tiễn, NHNN đã tiến hành phân loại TCTD và đưa 9 TCTD yếu kém thuộc sự kiểm soát của NHNN) (6/3); hướng dẫn Áp giới hạn tín dụng 17%, 15%, 8% và 0% đối với 4 nhóm TCTD (13/2); hướng dẫn các TCTD thực hiện cơ cấu lại nợ; Sáp nhập & hợp nhất; Xử lý một phần nợ xấu

Cú hích từ bất ổn kinh tế hậu gia nhập WTO

Thâm hụt tài khoản vãng lai từ 0,3% GDP năm 2006 leo lên 9,8% GDP năm 2007, thâm hụt thương nghiệp từ 4,6% GDP lên 14,6% GDP cùng kỳ. Cạnh tranh trong huy động vốn gay gắt đến mức, các NHTM đã trao toàn quyền chủ động về giá, về kỳ hạn gửi tiền cho khách hàng gửi tiền.

Với các qui định của hai luật mới, thì các yâu cầu hoạt động cẩn trọng đối với hệ thống nhà băng được tăng cường. Việc mở mang các hoạt động dịch vụ vừa tạo các công cụ để phòng ngừa rủi ro, vừa giảm dần sự lệ thuộc của các NHTM vào nguồn thu tín dụng.

Cộng với tác động của khủng hoảng tài chính toàn cầu, kinh tế nước ta bắt đầu rơi vào chu kỳ suy giảm, GDP rơi từ 8,46% năm 2007 xuống 6,3% năm 2008 và tiếp ở các mức rất thấp so với trước khi nhập WTO mặc cho việc điều chỉnh liên tục các chính sách tài chính – tiền tệ nhằm ổn định vĩ mô, hỗ trợ phát triển sinh sản kinh doanh.

Edu. Có thể nói, ngay năm đầu nhập WTO, nền kinh tế đã đối mặt với các vấn đề bất ổn và tình trạng đã trình bày rõ rệt vào năm tiếp theo, khi cán cân vãng lai tiếp xấu đi, vượt ngưỡng an toàn theo thông lệ, CPI lên tới 23% và tỷ giá VND trên thị trường tự do leo cao hơn trần tỷ giá chính thức tới 16% vào tháng 6 năm 2008.

Theo vietinbankschool. Nguồn vốn đầu tư tăng quá mạnh không chỉ tạo các áp lực tăng giá lớn, mà cán cân thương mại của Việt nam cũng mau chóng xấu đi.

Thực thi Luật NHNN và luật các TCTD  Năm 2010 là năm đầu thực thi Luật NHNN và luận các TCTD sửa đổi. Tiền đồng, do đó, đã chịu các áp lực giảm giá lớn. Thêm vào đó, các áp lực về lợi nhuận từ các chủ sở hữu ngân hàng cũng sẽ ngăn trở việc giảm lãi suất cho vay của các NHTM ở mức hiệp với các điều kiện của khu vực sản xuất, gây tác động không tốt tới môi trường kinh dinh của chính ngành ngân hàng.

Tín dụng ngoại tệ tăng cao cũng cộng hưởng tăng nhu cầu ngoại tệ, áp lực tỷ giá trong nền kinh tế. Đặc biệt các NHTM hoàn toàn rơi vào thế tiêu cực, khi cho phép khách hàng gửi tiền rút tiền bất kỳ lúc nào, với lãi suất theo kỳ thực gửi.

Kinh tế suy giảm, nhu cầu đầu tư giảm, kéo theo tín dụng giảm là logic thế tất. Vấn đề là, đầu ra tắc nghẽn, nên không chỉ nhu cầu vay mới giảm, mà khả năng trả nợ cũ cũng giảm theo. Gia tăng rủi ro hệ thống ngân hàng gắn với bất ổn kinh tế hậu gia nhập WTO   Tổng đầu tư từng lớp năm 2007 cao kỷ lục, lên tới 46,5% GDP, trong đó đầu tư nguồn vốn FDI tăng tới 93,4%.

Bên cạnh đó, sở hữu chéo còn gắn với các ích lợi cá nhân, lợi ích nhóm, khi các CEO của ngân hàng thực hành các hoạt động huy động, cho vay thông qua các công ty thuộc quyền sở hữu… nhằm thâu tóm thị trường.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét