Thứ Năm, 10 tháng 10, 2013

Hàn Mạc Tử - một phá cách đời nặng chữ yêu.

Bây chừ thôn Vỹ có 70% dân ngụ cư, phần lớn là người vùng duyên hải Thừa Thiên - Huế lên, tiếp đến là công chức, cán bộ phía bắc Trung bộ vào

Hàn Mạc Tử - một đời nặng chữ yêu

Câu chuyện tâm sự của Tử, trừ Ngâm ra, cũng không ai biết. Tội nghiệp ngôi đình làng nằm lọt thỏm giữa những nhà cao tầng, mặt tiền bị án ngữ bởi ngôi trường THCS và một cơ sở gì đó đang xây dựng. Thôn Vỹ hiện nay hết vườn tược tre trúc, chia năm xẻ bảy manh mún, nhà lầu, vi la mọc lên san sát. Còn nhà thơ tài ba bạc phận, may sao thôn Vỹ có đường mang tên Hàn Mạc Tử nằm ven sông Như Ý, hội tụ nhiều tiệm bán cơm hến cho du khách.

Gật đầu, anh công nhận: Đúng đúng, bên cái điểm kinh dinh bi da biển hiệu Rôn đó. Nhìn vào ngôi nhà mà Hàn biểu lộ “Vườn ai mướt quá xanh như ngọc”.

Thôn Vỹ. Với Hàn Mạc Tử - nhu cầu yêu - dù yêu đơn phương, luôn mãnh liệt. Cha của cô Kim Cúc thi đỗ Tú Tài Hán học kiêm cả Tây học, vào Qui Nhơn làm tham biện Sở Địa Chính.

Chưa vội, tôi ghé vào một quán giải khát, liền kề tường rào nhà cô Hoàng Cúc. Sau khi cô Hoàng Cúc mất khá lâu (ngày 3/2/1989), nay chỉ một số người cao tuổi ở Huế còn nhớ cô, ở hai cương vị: Cô giáo trường Trung học Đồng Khánh - Huế (nay là THPT Hai Bà Trưng) và nữ cư sĩ Phật giáo.

Không một thi sĩ tình nào cùng thời (kể cả “ông hoàng” thơ tình Xuân Diệu), có cách nói với người thương “đắm đuối” như Hàn:  lâu nay sát ngõ, chẳng ngăn tường   Không dám sờ tay sợ lấm hương   Xiêm áo đêm nay tề chỉnh quá   Muốn ôm hồn Cúc ở trong sương.

Khi gia đình cô sống tại Qui Nhơn, Hàn Mạc Tử gặp và kết bạn với Hoàng Tùng Ngâm (cùng tuổi với Hàn) - em chú bác ruột với Kim Cúc và đang ở chung một nhà với cô.

Cha là cụ Hoàng Phùng, mẹ là bà Tôn Nữ Thị Khuê, chánh quán làng Xuân Tùy (?) và trú quán tại thôn Vỹ Dạ - Huế.

(Còn nữa)   Vũ Hào. Khi Hoàng Cúc về Huế, ông tỏ tình vương vít bằng cách lồng vào thơ những từ hoàng hoa”, là cử chỉ nghệ thuật công khai tình cảm sâu nặng của mình:  Trời nhật nguyệt cầu vồng bắc tứ phía   Ôi Hoàng hoa, hồn phách đến nơi đây   Hương ân tình cho kết lại thành dây   mỏng manh như lời nhớ thương hàng triệu.

Tôi cảm ơn rồi phóng xe đi tiếp, rất nhiệt thành anh nói vói theo: Em vô đó làm chi, họ đi hết rồi, còn ai nữa. Việc đó, ngày 13/3/1971 trong thư gửi đến thi sĩ Quách Tấn, cô nói khá rõ: “Hồi đó Tử thường đến chơi với Hoàng Tùng Ngâm là em chú bác với tôi. Gia đình cô Kim Cúc là một gia đình lễ giáo.

Đến số nhà 24/12, tôi gặp một nữ giới trung niên đang phơi hương trầm, tôi hỏi: “Đây phải nhà cô Hoàng Cúc?”. ”. Tình ái ngầm ấy tạo nguồn cảm hứng, để Đây thôn Vỹ Dạ ra đời

Hàn Mạc Tử - một đời nặng chữ yêu

Má phấn môi son, chẳng thấy ai “mặt chữ điền”. Trời! vườn đâu còn xanh như ngọc, trúc đâu mà trúc. Hiện giờ   Nơi đây ngày xưa là nhà cô Hoàng Cúc Trưa tháng chín, bão số 8 vừa tan, tôi đi giữa thôn Vỹ, dưới cái nắng gay gắt hơi đất ngùn ngụt.

Ngày xưa sương khói   Cô Hoàng Cúc lúc ở Qui Nhơn Nhân vật “thơ” Hoàng Hoa, Hoàng Cúc tên đầy đủ là Hoàng Thị Kim Cúc, một thiếu nữ Huế cùng gia đình tạm trú ở đường Khải Định - TP Qui Nhơn (1932 - 1936). Rẽ vào đường Nguyễn Khoa Vy lúc học trò Trường THCS Vỹ Dạ tan học, đường chật, ngang dọc ngõ tắt như bàn cờ.

Bàng hoàng trước vẻ ngây thơ của Hoàng Cúc (kém Hàn 1 tuổi), thơ Hàn chuyển từ chủ nghĩa lãng mạn thơ mộng sang một phong cách hiện đại, với các giá trị truyền thống của văn hóa Á Đông. Hơn chục năm rồi, thôn Vỹ lên phố, người ta nhại thơ Hàn Mạc Tử như sau: “Sao anh không về chơi thôn Vỹ/ Nhìn giá nhà lên, giá đất lên/Vườn ai mướt quá xanh như ngọc/ Lá trúc che ngang mặt chữ.

Tiền”. Đáng tiếc cho ông, người Huế có câu: “Khó nhất đốn tre, nhì ve (cưa) gái”! Lúc gặp Hoàng Cúc, Hàn còn rất trẻ (20 tuổi), kinh nghiệm về phụ nữ chỉ giới hạn trong những xúc tiếp ít ỏi, bẽn lẽn, rụt rè. Chưa hết, trong hẻm bên nhà là tiệm cắt tóc, mấy cô đi ra đi vô, nhìn nhìn ngó ngó.

Hàng ngày, để “tiếp thị” cơm hến Vỹ Dạ, khách ăn uống được “khuyến mãi” giọng ca Lệ Quyên nức nở:   “Ai mua trăng, tôi bán trăng cho/Trăng nằm im trên cành liễu đợi chờ/Ai mua trăng, tôi bán trăng cho/Chẳng bán tình duyên ước hẹn hò. Sau này ông Hoàng Tùng Ngâm (sinh 1912 - mất 1976) hội tụ ra Bắc, đổi tên thành Hoàng Thanh Trai nguyên đại sứ tại Ai Cập và Sri Lanka. Giả thử thiếu vắng tình ái có lẽ đã không có một trong những thi sĩ tình lớn của thế kỷ XX.

Tôi muốn chụp vài kiểu ảnh mà không biết chọn góc máy chỗ nào! Đang quanh, bỗng gặp thi sĩ Trần Vàng Sao, ngồi nhậu lai rai với mấy người tôi quen, tôi hỏi anh: “Nhà chị Hoàng Cúc trong hẻm chùa Phước Huệ phải không anh?”. Tôi chỉ biết trước khi thầy tôi sắp về hưu, do một người bạn khác nói lại, chứ không phải Ngâm”. Bạn của Ngâm đông lắm, trong gia đình tôi, không ai để ý đến bạn của Ngâm.

Chị ấy ngơ ngẩn đáp “Tui không rõ, chỉ nghe nói là nhà cô Mai”. Như vậy, “BÓNG HỒNG TRONG ĐÂY THÔN VỸ DẠ” - Không ai khác là Hoàng Thị Kim Cúc (Hoàng Hoa - Hoàng Cúc), người thử thách Hàn Mạc Tử với những khái niệm nghệ thuật của chính ông.

Lên phố nhưng nhiều con hẻm lầm lội, nhu cầu xây dựng nhà cửa tăng cao, xe chở vật liệu cày nát đường bê tông. Hỏi thăm cụ bà tuổi ngoài 80 đang trông quán: “Cụ ơi có phải bên kia là nhà cô Hoàng Cúc không?”, cụ trả lời giọng là lạ “Tui không biết, tui dưới biển mới lên đây ở”. Cô sinh ngày mồng 8/11 năm Quý Sửu (5/12/1913).

Trong di sản ông để lại cho hậu thế, đáng để ý là hàng loạt bài thơ tình cực hay, được biết nhiều nhất là Đây thôn Vỹ Dạ, bởi ái tình là nhân tố kích thích sự thăng hoa của ông trên đỉnh cao nghệ thuật.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét